Dân buôn thực, dân buôn ảo

Ngày trước, dân buôn phải đến trực tiếp vùng nguyên liệu, hoặc xưởng, nhà máy để tìm kiếm đối tác. Họ tận mắt nhìn, tay sờ lên sản phẩm, và nói chuyện với giám đốc hay nhân viên tại nơi sản phẩm ra đời. Còn các chợ thì người lái buôn đến tận sạp để giao dịch, “tiền trao, cháo múc”. Nghĩa là hàng hóa phải được thấy tận tay mới giao tiền; tiền hàng được trao đổi ngay tại thời điểm hai bên đồng ý với mức giá và sản phẩm hợp lý.

Khi tôi còn nhỏ, kỳ nghỉ hè, má tôi dẫn tôi vào Sài Gòn chơi. Lúc đó, tôi không để ý má đi đâu, chỉ dẫn là đi theo, và ngày đó chỉ đi bằng xe đò từ Quảng Ngãi vào Sài Gòn. Má tôi vào Sài Gòn để lựa đồ về bán. Tôi còn nhớ ba tôi chở má và tôi xuống bến xe Quảng Ngãi, lên xe đò từ Quảng Ngãi vào Sài Gòn rất xa, tôi phải ngủ ngoặc nghẹo suốt gần một ngày mới tới nơi. Thời điểm đó, trong đầu tôi không hình dung được việc đi xe khó khăn như thế nào và cả việc ăn uống trên đường. Thức ăn thì chỉ là bánh mì và vài cây chả mang theo ăn dọc đường. Khi xe đến giờ ăn trưa, họ dừng lại ở những quán ăn trên đường; mọi người đều xuống xe, chỉ để lại hành lý, không ai được ở trên xe. Những người xuống xe đi toilet xong rồi vào quán ăn. Má tôi dẫn tôi đi rửa mặt, xong thì cho ăn cơm. Cơm đường hồi đó cũng không ngon lắm. Tôi còn nhớ, ai đi cùng bác tài xế thì được ngồi một bàn riêng, chủ quán dọn cho một bàn ăn như đám cưới, thức ăn rất ngon và nước ngọt uống đã đời.

Tôi được má cho ăn cơm với thịt heo và ít rau. Ăn xong, cả hai má con nghỉ ngơi một chút rồi lên xe tiếp tục đi. Xe chạy mãi, lên đèo, xuống đèo; trên những con đường đèo có những chỗ dừng xe để rửa hay sửa xe. Cảnh đèo nhìn từ trên cao hùng vĩ, cây cối như những bãi cỏ mọc sát nhau khi đưa mắt nhìn về phía những ngọn đồi qua kính cửa sổ xe. Xe lao vun vút, trời bắt đầu tối; trời lạnh và có nhiều sương. Buổi tối, xe chạy nhanh, tôi mệt quá nên ngủ luôn trên người má tôi. Lúc đó, xe không có giường nằm như bây giờ, chỉ có ghế ngồi, ngồi lâu thì đau cả lưng.

Khi xe vào đến Sài Gòn, má tôi và tôi xuống xe để đi ăn sáng tại bến xe, sau đó bắt xe đi đến chợ để lấy hàng. Lúc đó, trong người má tôi có rất nhiều tiền mặt, vì mỗi lần lấy hàng thì các cô bán ở sạp đều ra toa tính tiền. Tôi thấy má đưa cho họ một xấp tiền rất nhiều tờ 50 ngàn, tôi nghĩ cũng khoảng vài triệu. Thời điểm đó, mua hàng chục triệu đã là điều bình thường. Cứ đến sạp nào, má tôi thấy đồ đẹp thì gặp chủ sạp nói chuyện để biết quê ở đâu, bán buôn hàng hóa nào, mặt hàng nào chạy được và không bán được. Những cô bán hàng nói chuyện với má tôi rất cởi mở; họ thấy tôi đi theo cũng hỏi tôi học lớp mấy rồi hè được mẹ dẫn đi chơi hả con.

Hai mẹ con đi chợ hết một ngày. Sau khi trả tiền xong, má tôi vẫn để hàng ở sạp đó và dặn chủ sạp là có anh nhà xe đến lấy hàng hoặc chị biết anh đó thì mang đến giúp cho má tôi. Thời điểm đó, hầu hết các xe vận chuyển hàng từ Sài Gòn về các chợ thị xã không nhiều, nhưng đó cũng là một phần của dân buôn sử dụng để vận chuyển hàng hóa từ các chợ sỉ về chợ tỉnh để bán. Hàng hóa được đóng từng bao nhỏ, rồi nhà xe sẽ gom lại thành từng kiện lớn chở về. Sau buổi sáng, hai má con mua hàng ở chợ Tân Bình rồi xuống chợ An Đông. Lúc đó, chợ An Đông chỉ có một chợ. Giờ họ xây thêm khu plaza bán hàng cao cấp, nhưng đến bây giờ chợ sỉ An Đông vẫn còn tồn tại.

Chúng tôi bắt xe đi chợ An Đông để mua đồ. Ở đây, má tôi thường lấy quần áo nhiều hơn Tân Bình vì An Đông có vẻ đồ đẹp hơn. Má tôi quen nhiều bạn hàng mối ở đây. Khi đến nơi, ms tôi chỉ đưa tiền và họ ghi toa, xong xem những mẫu mới để lấy thêm, nhưng thường lấy những mẫu cũ bán chạy là chính. Thoáng một chút là má tôi mua sạch tiền, lúc trời cũng bắt đầu chiều. Hai má con để lại hàng ở chợ, nhờ mấy chủ sạp đóng rồi gửi cho nhà xe.

Má tôi lúc đó phải tự đi lựa hàng, xem đâu là mẫu mã đẹp thì mua. Người bán không nói thách; mua nhiều cũng là một giá, mua ít cũng là một giá. Ai đến đây cũng mua hàng với số tiền vài chục triệu trở lên. Thời kỳ đó, vài chục triệu là rất lớn, và ai cũng cố gắng mua cho hết số tiền mang theo.

Rồi thời gian sau này, từ khi có điện thoại, người ta cũng vào Sài Gòn lấy hàng hóa một đến hai lần rồi gọi điện thoại để đặt hàng. Còn tiền thì người ta dùng ngân hàng chuyển khoản. Nhiều người không biết dùng điện thoại hay không có tài khoản ngân hàng thì cũng phải dùng cách như má và tôi. Nhưng rồi sự chuyển đổi từ khi có internet ra đời, các tiểu thương bắt đầu dùng những ứng dụng gửi hình ảnh, gọi điện bằng video quay phim để đặt hàng. Có vẻ như giao dịch trở nên nhanh hơn. Hàng hóa bắt đầu vận chuyển chỉ cần 1 đến 2 ngày là từ Sài Gòn đã có mặt tại các chợ tỉnh rồi.

Nhiều vấn đề tốt cũng nảy sinh, nhưng cũng có nhiều vấn đề không tốt. Tốt là thông tin liên lạc nhanh chóng, giao dịch bắt đầu diễn ra nhanh hơn. Nhưng cái không tốt là bây giờ hàng hóa quá dễ mua; từ người bán sỉ giờ họ thành người bán lẻ luôn. Các xưởng sản xuất cũng bán lẻ được. Các trang thương mại điện tử ra đời, người dân ở các tỉnh họ đến chợ mua với giá cao nhưng mẫu mã ít. Họ lên mạng thì thấy nhiều người chào bán sản phẩm gần giống nhưng giá lại rẻ hơn một nửa. Lúc này, các tiểu thương ở chợ tỉnh bắt đầu lấy hàng rẻ hơn vì không phải đi lại xa, nhưng ngược lại, hàng hóa giờ họ phải cạnh tranh với những người bán trên mạng.

Từ ngày có mạng và các trang thương mại điện tử ra đời, các anh chị nhân viên văn phòng cũng mua hàng về bán trên mạng. Người không rành về hàng hóa cũng bán, người bán lại bán cho người bán khác; kiểu giống như trao đổi, một người không có kiểu này thì mua lại từ người kiểu khác. Các chợ sỉ cũng bắt đầu ế dần vì xưởng giờ họ lại bán lẻ cho người ở tỉnh với giá bằng giá sỉ, khỏi phải gối đầu cho các chợ sỉ. Khách hàng mua trên mạng họ trả tiền khi nhận hàng luôn.

Thị trường bùng nổ; hàng hóa được sản xuất nhiều, giá rẻ vì các xưởng làm nhanh để cạnh tranh giá cả và số lượng, dẫn đến chất lượng sản phẩm kém. Nhiều người lấy hàng giá rẻ hơn vài giá, rồi chụp hình cho vào máy tính chỉnh sửa ảnh thật đẹp, sau đó đăng bán. Khi đến tay người tiêu dùng, hàng xấu họ không đổi trả được, mà nếu có đổi trả thì mất thời gian, và nhiều chỗ bán không cho trả. Cũng có những chỗ bán cho đổi trả. Rồi dần dần, người bán hàng họ ở trên mạng, không có cửa hàng, bán trên mạng nên không sợ khách hàng than phiền; họ cũng không cần giữ uy tín. Có người không phải ngành của họ, như các anh chị nhân viên văn phòng, mua một món về bán, rồi sau đó nghỉ bán, đóng shop online. Khách hàng mua hàng xong ngậm ngùi không biết kêu ai. Dần dần, thị trường từ dân buôn thực thành dân buôn ảo.

Ai cũng nghĩ mua về bán không được thì sử dụng, bán buôn không có bạn, không có phường, chỗ nào rẻ thì lấy về bán, bày ra nhiều nhưng thực sự không lời. Nhiều chỗ bán không có hàng trong kho, chờ khi nào khách đặt hàng đủ số lượng rồi mới đi gom từ xưởng. Xưởng cũng không có sẵn hàng, hoặc có hàng thời điểm trước có, đến lúc cần lại bán hết cho người khác. Nhiều tệ nạn mua hàng online rồi không trả tiền, không trả hàng. Ai cũng đặt lòng tin lên hàng đầu, nhưng lòng tin trên mạng là cái rẻ nhất mà người ta trao nhau qua những tin nhắn không có uy tín bằng “tiền trao, cháo múc”.

Nhiều người trước khi mua hàng, thông tin hàng hóa trên internet cũng rất nhiều. Giờ chỉ cần gõ mã hàng hay chụp tấm hình là tha hồ biết về thông tin sản phẩm; giá cả bao nhiêu, có màu gì, ở đâu bán, cách thức vận chuyển có rẻ hơn hay không. Có thể so sánh giá giữa người bán ở tận xa, từ Sài Gòn đến Hà Nội để biết ai bán rẻ hơn. Người mua bắt đầu khôn ngoan hơn; họ biết cách tìm kiếm sản phẩm tốt. Nhưng họ lại gặp tiếp vấn đề là hàng hóa các xưởng sản xuất na ná giống nhau. Khi thị trường có một mặt hàng ra đời bán chạy, ngày hôm sau các xưởng đua nhau ra loại hàng giống y chang nhưng giá rẻ hơn. Những người mua thông thái lại bị lừa tinh vi từ những người bán hàng. Hàng loại 2, loại 3, thậm chí có cả loại 5, loại 7, và loại 10 mà giá chỉ bằng một phần ba. Người mua tưởng mình mua được sản phẩm giá hời, vì giá chỉ bằng một phần ba, thậm chí bằng một phần hai cũng đã là rẻ lắm rồi. Nhưng khi hàng đến tay, mang vào sử dụng thì đó lại là hàng nhái, hàng làm giống hàng chính gốc. Thật khổ cho người tiêu dùng, khi họ thông minh thì người bán lại lợi dụng điều đó để bán hàng.

Người bán và người mua như một trò chơi mà thị trường giờ không ai dám tin nhau. Người mua sợ không có hàng, người bán thì sợ không bán được hàng. Mọi thứ trở nên rối tung cả lên khi thị trường rối loạn, ai cũng quảng cáo hàng chất lượng, hàng tốt, an toàn, mua về không hại sức khỏe. Cuộc chạy đua khoe giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, khoe các thành tích lao động chất lượng. Có người khoe cả ảnh cán bộ vào nhà máy chụp hình tham quan, đủ hình thức để đánh bóng tạo giá trị cho sản phẩm. Người tiêu dùng như ở trong ma trận, không biết tin vào ai. Giờ lên mạng, không biết mua hàng kiểu gì, mua rẻ cũng sợ, mua mắc cũng sợ.

Thị trường hàng hóa bắt đầu trở nên khó khăn hơn. Các chợ truyền thống bắt đầu giảm dần; các tiểu thương ở chợ tỉnh cũng không bán được hàng từ khi có mạng ra đời, còn thị trường thì vẫn chạy. Hàng hóa bây giờ người ta mua bằng niềm tin. Giờ chỉ hy vọng mua hàng không bị lừa là vui rồi. Còn muốn mua hàng ở các cửa hàng thì giá quá cao, vì tiền mặt bằng người ta phải trả cao cộng với tiền thuê nhân viên, nên giá không thể cao hơn được. Ngược lại, người mua được thử hàng, được nhìn thấy hàng, được sờ tay vào sản phẩm, và cũng được tư vấn rõ ràng. Thị trường vẫn tiếp tục; chỉ là ai mệt quá thì dừng lại, ai sạch vốn thì dừng lại, ai cố gắng thì tiếp tục. Thực và ảo lẫn lộn làm thị trường hỗn loạn. Giá trị hàng hóa bây giờ được tính bằng ai nói hay hơn ai chứ không cần chất lượng cao như ngày xưa nữa.