Giáo dục ảnh hưởng đến thị trường

Giáo dục mà tôi muốn nói đến là khoảng thời gian được đi học ở trường, khi chúng ta gia nhập vào trường học để học những kiến thức gần như giống nhau, nhằm tạo ra những con người bị ảnh hưởng rất lớn từ kiến thức. Khi chúng ta được học kiến thức tốt, sau này chúng ta sẽ trở thành những người tham gia vào thị trường lành mạnh hơn. Nếu giáo dục không có hướng đi tốt, sau này chúng ta sẽ bị ảnh hưởng rất lớn đến thị trường hàng hóa.

Ở một số quốc gia, người ta không bao giờ thích làm ra những sản phẩm bắt chước người khác. Khi đã có người nào đó làm rồi, họ tìm những sản phẩm khác để phát triển. Những ai biết ai là người tạo ra sản phẩm đó sẽ chỉ thích chọn người đầu tiên để mua; họ coi thường người bán những sản phẩm bắt chước. Từ đó, những đất nước khuyến khích sự sáng tạo trong công việc cũng như trong sản xuất. Họ làm ra những sản phẩm tốt hơn, năm nay thêm một chức năng mới, năm sau lại phát triển thêm một chức năng khác, nhưng giá thành vẫn giữ như cũ, không tăng giá, trừ khi có người cố tình làm ra những sản phẩm vượt trội, vì họ phải mua lại những công nghệ tiên tiến tốn kém hơn để sản xuất sản phẩm vượt bậc, lúc đó họ mới tăng giá thành sản phẩm.

Thường thì họ bắt đầu từ con số không, rồi họ làm tốt hơn, chú trọng vào chất lượng và ít quan tâm đến lợi nhuận, vì được giáo dục rằng để tạo ra một sản phẩm có giá trị, cần phải bỏ ra nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Do đó, họ tập trung vào việc làm sản phẩm. Họ không thích bắt chước người khác để sản xuất những mặt hàng giống như người trước, vì như vậy họ cảm thấy tự mình xúc phạm bản thân. Họ không làm giống người khác.

Còn có những quốc gia mà giáo dục không ăn khớp với những gì họ học. Trong trường lớp, họ được giáo dục để trở nên tốt hơn, có thể chấp nhận việc bắt chước người khác, miễn sao kết quả tốt hơn hoặc bằng đều được chấp nhận. Khi một người sản xuất ra sản phẩm bắt chước người khác nhưng sau khi hoàn thiện, họ bán với giá rẻ hơn sản phẩm khác được thị trường chấp nhận, thì người tiêu dùng ở nơi đó cũng được giáo dục để tìm kiếm sản phẩm rẻ và chất lượng. Họ không được giáo dục để tôn trọng người sáng tạo ra sản phẩm.

Khi tôi còn nhỏ, sống trong thời kỳ giữa đóng cửa và mở cửa đất nước, nghĩa là trước năm 1994, Việt Nam bị Mỹ cấm vận. Sau năm 1994, Tổng thống Bill Clinton sang Việt Nam thông báo dỡ bỏ cấm vận. Thời điểm đó, tôi thấy trong nơi tôi sống rất khó để tìm cơ sở sản xuất nào bắt chước vì lợi nhuận. Tôi thấy những cơ sở sản xuất thường có những người học nghề; sau khi học xong, họ sẽ tìm một nơi hoặc một vùng nào chưa có ai làm để bắt đầu mở sản xuất. Từ một cơ sở sản xuất của thầy, trò mở ra sản xuất và họ có mối liên kết học hỏi rất chặt chẽ, tôn trọng lẫn nhau. Cậu tôi ngày đó vào Sài Gòn học công thức làm đường phèn, đường phổi, sau khi học xong, ông về quê mở ra xưởng đường phèn, đường phổi để cung cấp cho các chợ trong vùng.

Bố tôi cũng vào Sài Gòn học may, sau khi học xong, ông về quê mở ra nhà may. Ông đào tạo rất nhiều học viên và giúp họ mở tiệm cũng như mua máy móc để mở nhà may. Họ làm ăn rất có trật tự. Khi khách hàng đến nhà tôi may đồ quá đông, bố tôi giới thiệu họ đến chỗ học trò, nhưng nhiều người không thích học trò mà bố tôi giới thiệu; họ vẫn thích may ở chỗ bố tôi vì họ đã quen với chất lượng nơi đó từ lâu. Dù có ở gần tiệm học trò bố tôi, họ cũng không muốn may ở đó. Khách hàng chỉ bỏ đi khi chủ hàng làm gì đó khiến họ giận, còn bình thường họ chỉ đến một chỗ để mua hàng.

Tại thời điểm đó, trên một con đường chỉ có duy nhất một cửa hàng bán thuốc tây hay chỉ có một tiệm nhổ răng. Nhiều người sửa xe đạp cũng vậy; nhiều khi họ muốn tìm đến ông thợ sửa xe đạp thứ hai cũng khó, vì khi họ đến ông thứ hai sửa, trong lòng khách hàng có chút suy nghĩ gì đó khó coi trong lòng. Họ nghĩ bình thường đang sửa xe ở ông gần nhà, giờ đi sửa ở ông xa hơn một chút cũng có cảm giác sợ bị phát hiện. Thậm chí, khi đến chỗ khác sửa, họ cũng bị người ta nhìn ngó một cách khó chịu. Đây là sự thật trong thời kỳ đó; lúc ấy, học sinh ở đâu sẽ học ở đó, không như bây giờ có chuyện chạy lung tung tìm trường để học.

Vấn đề buôn bán hay sản xuất hàng hóa thời trước là vậy. Thời nay người dân buôn bán và khách hàng thay đổi rất nhiều. Từ khi đất nước mở cửa, Việt Nam gia nhập vào nhiều hiệp định, như hiệp định thương mại song phương, hiệp định WTO tự do thương mại, và nhiều hiệp định khác nhằm mục đích tạo điều kiện cho hàng hóa từ các quốc gia khác đổ vào Việt Nam cũng như hàng hóa từ Việt Nam đi đến các quốc gia khác. Bắt đầu có những người nước ngoài vào Việt Nam mở tiệm, mở cơ sở sản xuất, sự cạnh tranh diễn ra rất khốc liệt, dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất gốc trong nước không thể cạnh tranh lại. Nhiều yếu tố cạnh tranh như giá cả, công nghệ, tài chính và cả thị trường.

Dần dần, trên một con đường có đến vài ba nhà thuốc tây, hàng tiệm làm răng, hớt tóc thì vô số, các hàng quán như quán cafe, quán nước thì đua nhau mọc “như nấm”. Cạnh tranh giữa người trong nước và quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam trở nên ngày càng khốc liệt. Thời điểm từ khi mở cửa đến nay, mọi thứ trở nên công bằng như các hiệp đình đã ký. Công bằng có nghĩa là ai cũng có thể làm kinh doanh, ai cũng có thể mở tiệm quán, miễn là có tiền và biết cách buôn bán, sản xuất. Ai cũng có thể bắt chước người khác, không cần quan tâm miễn sao giá rẻ thì thị trường sẽ chọn họ. Dần dần, ai cũng nhìn ngó ai thành công, công xưởng nào sản xuất bán được hàng, họ sẽ đổ xô đi kinh doanh mặt hàng đó, mở công xưởng sản xuất giống như vậy để đưa ra sản phẩm bắt chước, sản phẩm giá rẻ hơn. Họ làm cái nhãn khác nhau nhưng nội dung bên trong giống y hệt, vì họ không muốn bị nhà nước phạt vì làm giống cái logo thương hiệu, vì đây là trái luật vì họ sợ bị phạt. Có những sản phẩm làm cùng 1 nhà máy nhưng gắn 2 logo khác nhau. Khi bán ra thị trường họ để cạnh bên nhau, giá cả khác nhau và người tiêu dùng không biết bên trong thực chất từ 1 nhà máy.

Quảng cáo bắt đầu hiển thị nhiều hình ảnh nói tốt cho sản phẩm và các hàng quán. Ai có nhiều tiền thì có khả năng hiển thị hình ảnh khắp nơi trong một khoảng thời gian dài hơn để nhiều người thấy hơn thấy lâu hơn. Nhiều người sản xuất hàng hóa kém chất lượng tập trung vào quảng cáo nhiều hơn, tạo ra cửa hàng có thiết kế đẹp. Nhà sản xuất cũng đua nhau xin những giấy tờ chứng nhận sản phẩm hợp quy định sau đó đưa sản phẩm ra bán. Một thời gian sau, người tiêu dùng phát hiện ra cơ sở sản xuất bỏ chất cấm để làm sản phẩm đẹp hơn, ăn ngon hơn, giữ độ tươi lâu hơn.

Hàng quán cũng vậy; họ chạy đua với lợi nhuận nên việc vệ sinh an toàn thực phẩm cũng bị cắt bớt, thực phẩm rau mua về có chỗ họ không rửa hoặc chỉ rửa để khách hàng nhìn không thấy bẩn là đạt. Chủ quán tìm những loại thực phẩm kém chất lượng vì giá đầu vào rẻ, sau đó chế biến và bán cho người tiêu dùng nhằm giảm giá thành bán ra, cạnh tranh với người bán bên cạnh.

Một chuỗi sản xuất đến bán buôn tiêu dùng bị giáo dục không chú trọng chất lượng, dẫn đến một môi trường hỗn loạn không trật tự. Bây giờ để tìm sản phẩm có nguồn gốc rất khó và để tìm sản phẩm sạch cũng không biết ở đâu. Thị trường hàng hóa trộn lẫn giữa sản phẩm tốt chất lượng và sản phẩm kém chất lượng, được bán trên cùng một kệ. Các sàn thương mại điện tử mà ở đó người tiêu dùng khó phân biệt hàng chất lượng hay không chất lượng. Nhiều người mua về sử dụng nhưng sau đó thấy không xứng đáng, không công bằng với số tiền mình bỏ ra để mua hàng. Chỉ có cách thay đổi giáo dục nhận thức thì thị trường mới thay đổi để trở nên tốt hơn. Đây cũng là điều cần suy ngẫm trước khi bước vào chuỗi thị trường kinh doanh hàng hóa ngày nay.