Sài Gòn vào những ngày hè của năm 2026. Mùa hè ở miền Nam cũng là lúc mùa mưa bắt đầu đến. Cái nóng cuối mùa oai bức đến mức vừa mới tắm xong, mồ hôi đã lại râm rấp rít chịt trên da. Những năm gần đây, Thành phố khởi công nhiều công trình đường cống, khiến việc chạy xe trên đường giữa cái nắng gắt kèm khói bụi trở thành nỗi ám ảnh. Ai sống ở Sài Gòn lâu mới quen, chứ người mới đến dễ bị ngợp vì tốc độ phát triển đô thị quá nhanh. Chắc phải mất vài năm nữa, đường xá nơi đây mới có thể thay đổi.
Hôm nay, tôi đi công việc ở Quận 12 nên sẵn tiện ghé thăm anh Đoàn Nguyên. Trước Tết chúng tôi có gặp nhau, tính cho đến nay mới gặp lại cũng đã bẵng đi gần 6 tháng trời. Vì công việc bận rộn nên chúng tôi ít khi tụ họp. Có những khi tôi đi công tác ngang qua nhưng vì muộn quá nên cũng không ghé thăm anh được. Lúc tôi đến nhà anh là tầm 1 giờ 30 chiều. Vẫn là con đường mòn chưa trải nhựa từ bao năm qua. Lối vào nhà anh thuộc khu đất đang nằm trong diện quy hoạch của Nhà nước. Ai cũng biết trước mặt nhà anh là một khu nghĩa địa, nhưng nơi đây lại có bầu không khí vô cùng trong lành. Sự trong lành ấy hiện hữu từ chính những người dân chất phác cho đến cảnh vật xung quanh. Đó là những luống rau muống, rau cải ngọt được người nông dân cần mẫn chăm sóc để cung cấp một phần cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi đến nhà anh, như thường lệ, cửa ngoài chỉ khép hờ chứ bên trong không khóa. Biết anh chỉ loanh quanh đâu đó trong xóm, tôi chạy xe đi lòng vòng để tìm. Tôi rất thích vùng đất này vì sự yên bình của nó. Lấy cớ đi tìm anh, tôi len lỏi qua những con hẻm nhỏ và phát hiện ra nhiều điều thú vị – những điều đang nuôi dưỡng tinh thần của anh Đoàn Nguyên. Nơi đây không tiếng ồn, không khói bụi, là nơi giao thoa giữa địa phận thành phố và vùng nông thôn. Nó được mệnh danh là “miền quê giữa lòng Sài Gòn”. Nếu bạn lên mạng gõ cụm từ này, bạn sẽ biết về khu đất biệt lập đã hơn 20 năm nằm trong diện phong tỏa chờ quy hoạch lớn của thành phố.
Đi dạo một vòng không thấy anh, tôi quay lại nhà. Lúc này tôi mới phát hiện bức tường chắn phía trước nhà anh đã được dỡ bỏ, nhìn thoáng đãng hơn trước. Cạnh bên lối đi, vài tấm tôn áp form chống nóng được xếp dọc theo tường. Tôi lấy điện thoại gọi cho anh. Anh nghe máy rồi ra mở cửa. Anh bảo đang ngủ trưa trong nhà. Tôi liền xin lỗi vì đã làm phiền giấc ngủ của anh. Mấy lần tôi đến đây toàn vào đúng giờ trưa, một phần vì tính chất công việc không thể hẹn trước, cứ tiện đường đi ngang là tôi lại ghé thăm. Mà ở quê, buổi trưa ăn xong chỉ cần ngủ một giấc là hạnh phúc nhất rồi còn gì.
Anh mở cửa cho tôi chạy xe vào. Nhìn xung quanh, mọi vật đều không có gì thay đổi. Lần này, tôi thấy anh có một chiếc xe đạp đua mới. Không biết là xe của anh hay anh mượn của ai, lúc đó tôi cũng không quan tâm nhiều nên không hỏi. Cởi chiếc áo khoác ra, tôi vào trong nhà, ngồi vào chiếc bàn gỗ tiếp khách quen thuộc. Anh mở tủ lạnh lấy cho tôi chai nước suối lạnh kèm mấy viên đá. Ngồi trò chuyện một lúc, anh bảo: “Em uống trà này vào, sau đó uống nước lọc sẽ thấy vị ngọt”. Chúng tôi tiếp tục hàn huyên, hỏi thăm nhau. Phần lớn câu chuyện của chúng tôi không chạm đến chủ đề gia đình hay người thân. Tôi biết chuyện gia đình anh khá mơ hồ và anh cũng có những góc khuất riêng. Anh từng chia sẻ với tôi một lần, và từ đó về sau tôi không hỏi thêm gì nữa.
Nhìn anh dạo này khỏe mạnh, da dẻ trắng trẻo, tóc và râu đều đã dài hơn. Anh Đoàn Nguyên có một làn da rất mỏng và bóng láng, đến mức các cô gái nhìn thấy chắc cũng phải ghen tị không ít thì nhiều. Anh rót trà, hai anh em cùng uống và chiêm nghiệm về cuộc sống, về con người, về thế giới bên trong lẫn bên ngoài. Anh là người sống nội tâm và rất giỏi nhìn người, bên cạnh tài năng vẽ tranh. Anh là một người thức tỉnh chứ không “say” như người ta tưởng. Anh uống rượu là để tỉnh, chứ không phải để say như mọi người vẫn nghĩ.
Cuộc sống sáng tác của anh phần lớn diễn ra lúc say. Chính những lúc ấy, anh mới nhìn thấy được những hình ảnh, màu sắc rõ nét. Khi say, tâm trí anh lại tỉnh táo và hiện lên nhiều ý tưởng để sáng tác. Anh là người nghiện chất men, nhưng để uống được đến mức say khướt đối với anh lại rất khó. Rượu chỉ là chất kích thích não bộ, giúp anh mạnh dạn đưa những đường nét đi sâu vào nội tâm bên trong một cách rõ ràng hơn, mở ra những hình ảnh vốn ẩn giấu trong tâm trí.
Hai anh em ngồi trò chuyện, anh giải thích cho tôi hiểu thêm về giá trị của tranh. Việc định giá một bức tranh thực ra rất đơn giản, không phải cứ là tranh thì sẽ vô giá. Bức tranh do họa sĩ sáng tác luôn có một mức giá cơ sở. Anh giải thích rằng điều này cũng giống như việc đầu tư bất động sản. Những nhà đầu tư nhạy bén sẽ chọn mua đất ở những khu vực chưa hình thành, hoặc sắp quy hoạch trong tương lai. Nơi đó mới có tiềm năng tăng giá mạnh mẽ. Đến khi mọi cơ sở hạ tầng hoàn thiện, giá trị của nó sẽ chạm trần và không tăng thêm nữa. Nhiều người mua tranh về bán lại nhưng không hiểu giá trị tương lai nên thường thất bại hoặc bán lỗ. Họ giống như những người mua nhà ở các khu dân cư đã hoàn thiện hay tại khu trung tâm Quận 1 Sài Gòn, lúc bán ra có khi lại lỗ vì mọi thứ đã hình thành xong, biên độ tăng giá không còn nhiều.
Tranh cũng vậy. Khi một tác phẩm đã được đấu giá và gõ búa, mức giá của nó khó có thể tăng thêm khi người mua mang về treo để chiêm ngưỡng. Nếu có bán lại, giá trị của nó cũng không thể tăng phi mã như lúc bức tranh còn mới và chưa ai biết đến. Người vẽ tranh giống như người nông dân. Muốn đầu tư tranh, tốt nhất là tìm đến tận gốc người nông dân để mua được giá hợp lý. Một bức tranh chứa đựng càng nhiều sự bí ẩn và chiều sâu thì giá trị của nó càng cao, nhất là khi có sự nhập cuộc và khám phá của các giới chuyên gia. Những người kinh doanh tranh nếu thiếu sự thấu hiểu này thường sẽ mua bán không có lời. Anh dạy cho tôi cách hiểu về giá trị đến đó là hết. Khi tiếng búa đấu giá vang lên, nghĩa là giá trị của bức tranh đó gần như đã chạm đỉnh rồi.
Tôi hỏi thêm: “Anh giúp em giải nghĩa tại sao có những bức tranh khi nhìn vào, em lại thấy nó cứ đơ đơ làm sao?”. Anh ôn tồn giải thích: “Tranh phải có cái hồn bên trong mới thực sự là tranh. Khi họa sĩ đặt bút vẽ, họ phải thổi sự sống vào vật thể. Nghĩa là từng chi tiết được đưa vào tranh đều phải mang một linh hồn riêng, khiến vật thể đó như đang sống”.
Anh lấy ví dụ về chiếc ống điếu thuốc lào có sự sống: “Em nhìn chiếc ống điếu này xem, cái bóng của nó cũng chính là nó. Ánh sáng phản chiếu hình ảnh của mình hay gương mặt của mình ẩn hiện bên trong chiếc ống điếu, đó chính là cái hồn của vật thể”. Một người vẽ tranh chỉ để kiếm tiền sẽ không thể thổi hồn vào tác phẩm. Khi họ vẽ bông hoa hồng, ai nhìn vào cũng nhận ra ngay đó là hoa hồng, rất dễ thấy. Nhưng để làm cho bông hoa hồng ấy thực sự có sự sống, đó mới gọi là nghệ thuật. Họa sĩ hơn nhau ở cái tài thổi hồn vào bức tranh, khiến từng vật thể bên trong như đang thở và sống động như ngoài đời thực.
Người ta thường bảo anh ít ra ngoài, ít tiếp xúc với xã hội, nhưng với tôi, anh là một người tỉnh thức – một người chọn cách tách ra khỏi đám đông để chiêm nghiệm cuộc đời. Tầm hiểu biết của anh vô cùng sâu sắc. Anh thấu hiểu về con người và nhân tình thế thái ở tầng tri thức, chứ không phải cứ sống tách biệt với cộng đồng là không biết gì. Đó là nhận định của những ai chưa thực sự hiểu về anh Đoàn Nguyên. Để hiểu được anh, bạn phải là một người nếm trải cảm giác cô đơn giữa chốn đông người. Sự cô đơn của anh là hoàn toàn có thật. Đó là cái giá phải trả của những tư duy tỉnh thức khi sống giữa một đô thị năng động, náo nhiệt như Sài Gòn. Ở một thành phố mà nhịp sống bị cuốn theo vòng xoáy kiếm tiền, sự hào nhoáng và những vỏ bọc bên ngoài, việc bạn cảm thấy lạc lõng khi đi siêu thị, quán cà phê, hay tham gia các hội nhóm đông người là điều hiển nhiên.
Anh còn là một người yêu nước và rất thích trẻ con. Anh chia sẻ mấy ngày nay mình có nhiệm vụ đưa đón đứa cháu đi học về. Thấy cháu thích đi bơi, anh lại dẫn đi. Ở cạnh trẻ con, anh thấy mình như trẻ lại. Anh yêu những suy nghĩ thẳng thắn, thật thà của chúng. Khi mình cho kẹo, đứa trẻ thích thì ăn, không thích thì bảo không thèm, chứ không như người lớn cứ hay sống giả tạo với cái vỏ bọc bên ngoài. Giống như có những người, bên trong thì thèm nhậu nhẹt nhưng bên ngoài lại tỏ vẻ thanh cao, hoặc ngược lại, trong lòng không thích uống nhưng ngoài mặt vẫn cứ cụng ly. Anh còn bảo, nhiều gia đình ở nhà thì vợ chồng cãi vã, gia đạo bất ổn, ấy thế mà ra đường lúc nào cũng xịt nước hoa thơm phức, quần áo chỉnh tề, ăn nói đạo mạo, cuối năm vẫn được ban tặng danh hiệu “Gia đình văn hóa”. Nói xong, anh cười khà khà rồi vỗ tay vào đùi bộp bộp. Cả tôi và anh cùng cười một trận đã đời, khoái chí.
Tôi cũng trải lòng với anh: “Em thật lòng thấy bản chất con người ai sinh ra cũng tốt, nhưng họ không được học về sự thức tỉnh. Sống trong một môi trường như vậy buộc họ phải bắt chước theo số đông mà không có lối thoát, cũng chẳng có ai dạy họ cách thay đổi, nghĩ cũng tội nghiệp cho họ. Lòng tham hay sự ích kỷ đều là do môi trường nhào nặn hoặc qua trải nghiệm đường đời mới hình thành, chứ không phải tự nhiên sinh ra đã có”.
Anh mở điện thoại lên xem, giờ cũng đã 3 giờ chiều, đến lúc anh phải đi đón cháu để dẫn đi bơi. Tôi cũng phải tranh thủ chạy về đón con tan học, vì nhà tôi cách nhà anh tầm một tiếng đồng hồ đi xe máy. Lúc chia tay ra về, anh còn dặn: “Sau này em tới, nếu thấy cửa ngoài khép mà không khóa thì anh chỉ loanh quanh đâu đây thôi, chờ chút là anh về. Hoặc nếu anh đang ở trong nhà, em cứ gọi cửa hoặc gọi điện thoại là anh ra mở”.
Tôi cảm nhận được anh rất quý mến tôi. Anh không hề khó gần hay sợ bị làm phiền như người ta vẫn tưởng. Khi gặp anh, tôi như tìm thấy một người tri kỷ đồng cảm. Bởi lẽ, bản thân tôi cũng là một người cô đơn. Tôi không có nhiều bạn bè, thường thích ngồi một mình và không hề hứng thú với những hội nhóm hay chốn đông người. Tôi yêu thiên nhiên, thích lặng lẽ ngồi một mình nghiên cứu mọi thứ hơn là tụ tập đi chơi với đám bạn như thời còn trẻ.