Ngày trước, khi tôi còn nhỏ, tôi nhớ mang máng má kể rằng: Má tôi vào tận Sài Gòn để mua thuốc tây về quê bán. Thời điểm đó, không dễ dàng để đi từ Quảng Ngãi vào Sài Gòn, vì phương tiện xe khách còn thô sơ. Có loại xe “ka”, xe mà chúng ta thường thấy các đoàn làm phim dùng để đưa diễn viên đi quay ngoại cảnh. Ở Việt Nam thời đó, đi xe bị bể bánh dọc đường là chuyện bình thường. Mỗi lần bể bánh, hành khách nằm ngủ trên xe hoặc tất cả phải xuống xe ngồi la liệt hai bên đường chờ tài xế và phụ xe sửa. Khi nào xong mới tiếp tục đi. Mỗi chiếc xe đều có cục kê bằng gỗ.
Mỗi khi lên đèo, anh lơ xe chạy sát bên bánh xe; nếu máy xe kéo không nổi và bị tụt, anh dùng cục kê gỗ chặn lại. Chờ xe nổ máy để đi tiếp. Tình trạng xe hư dọc đường thường xuyên xảy ra, hình như xe nào cũng vậy. Nhiều chiếc xe leo lên đến đèo thì nằm chết máy giữa đèo, bà con phải nằm chờ ở đó cho đến ngày hôm sau khi xe sửa xong mới được đi tiếp. Từ Quảng Ngãi vào tận Sài Gòn cũng mất một ngày một đêm mới tới nơi.
Thời điểm đó, không có khách sạn như bây giờ. Dân buôn như má tôi thường vào mấy nhà trọ gần bến xe để ngủ một đêm, sáng hôm sau mới dậy đi mua đồ. Nhà trọ cho thuê rất tồi tàn, vào bên trong căn nhà tối tăm, bước vào phòng chỉ khoảng 3 mét vuông, vào phải vén màn lên chứ không có cửa. Giường được kê bằng vài tấm ván cùng loại ván làm vách ngăn. Bên trong tối chỉ có một chiếc bóng đèn mờ, giường thì không có mền, chỉ có cái gối nhỏ rất bẩn. Khi dân buôn vào nhận phòng, họ thường đi vệ sinh và rửa mặt. Ở đây, toilet dùng chung cho tất cả các phòng, dân buôn vào chung toilet tắm giặt. Nước được đựng trong chiếc lu to chôn dưới lòng đất, chỉ còn chừa cái miệng lu lên để dùng ca múc. Lu chứa đầy nước trông trong vắt nhưng không biết có sạch hay không, vì thời điểm đó không có hóa chất, nước là tự nhiên được múc lên nhờ mấy anh làm công của nhà trọ cho dân buôn dùng.
Tối đến, dân buôn nằm ngủ trong phòng, tất cả tài sản bao gồm một cái giỏ xách bằng da đen có bỏ mấy bộ đồ bên trong, trong đó có tiền mặt. Má tôi lúc đó cũng cầm nhiều tiền đi theo mua hàng, tối ngủ chỉ biết vừa ngủ vừa thức để không ai trộm tiền.
Vào năm 1980, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa kinh tế, dẫn đến sự thay đổi trong quản lý thị trường, bao gồm cả buôn bán thuốc tây. Trước đó, việc buôn bán thuốc tây không hợp pháp hoặc bị kiểm soát rất chặt chẽ. Giá cả hàng hóa bị quản lý nghiêm ngặt, và nhà nước phân phối hàng hóa thông qua hệ thống tem phiếu. Nhiều mặt hàng thiết yếu trở nên khan hiếm, gây ra tình trạng thị trường chợ đen. Chính phủ kiểm soát mọi hoạt động thương mại, dẫn đến thiếu hụt hàng hóa và dịch vụ. Mặc dù những chính sách này nhằm mục đích xây dựng một xã hội công bằng, nhưng chúng đã gây ra nhiều khó khăn, như lạm phát cao và đời sống khó khăn cho người dân.
Thời điểm đó có nhiều dân buôn vào tận Sài Gòn để tìm mua thuốc tây ở thị trường chợ đen. Họ giao dịch mua bán, tùy mỗi loại thuốc mà có nhiều loại được mang từ tỉnh vào Sài Gòn, và nhiều loại thuốc cũng được mang từ Sài Gòn về tỉnh để bán. Không chỉ thuốc tây, mà còn có vải vóc cũng được mang từ Sài Gòn về tỉnh để bán. Dân buôn có thể lời từ 30% đến 100% tùy loại. Má tôi lúc đó tốt nghiệp ngành y, bà vào tận Sài Gòn mua thuốc về Quảng Ngãi bán cho người dân. Với kiến thức về ngành y, bà rất rành các loại thuốc tây. Trong bối cảnh khan hiếm hàng hóa, lượng cầu nhiều nhưng cung không đủ, đây là lý do người ta nghĩ cần phải đi tìm mua cung cấp cho nhu cầu cần thiết nhằm kiếm lời. Đây là một cách tự nhiên vì dân buôn rất hiểu về thị trường; họ đọc được nhu cầu ở đâu cần và ở đâu dư thừa, tìm cách đến nơi có hàng hóa để mua. Mặc dù là thị trường chợ đen bất hợp pháp, nhưng thực chất những người mang thuốc tây hay vải vóc từ bên trong ra ngoài bán được, vì dân buôn không có thuốc hay hàng hóa mà bán. Gốc rễ là từ những người quản lý, họ có cách để tuồn hàng hóa ra ngoài theo một cách nào đó để cung cấp cho nhu cầu thị trường.
Cách nào để những mặt hàng cấm được đưa từ Sài Gòn đến từng địa phương? Thời điểm đó có phương tiện vận chuyển như tàu lửa, xe đò và xe khách. Dân buôn mua thuốc tây, những loại viên thuốc nhỏ giá trị cao được cất giấu trong hành lý, hoặc cất trong những thùng hàng được trộn chung vào những mặt hàng khác như thực phẩm hay các mặt hàng hợp pháp khác, để tránh bị kiểm tra. Có khi họ nhờ người thân đi cùng xách hộ. Người buôn bán cũng sẵn sàng hối lộ các nhân viên kiểm soát hoặc cảnh sát để qua mặt sự kiểm tra. Việc này thường diễn ra trong những trường hợp cụ thể và không phải lúc nào cũng thành công.
Sài Gòn thời kỳ đó, phương tiện đi lại của người dân là xích lô, và đây cũng là phương tiện mà dân buôn dùng để di chuyển từ bến xe, bến tàu lửa đến các khu chợ như Chợ Tân Bình. Ở đây có nhiều bạn hàng, họ ngồi ngay đầu chợ tìm kiếm dân buôn và chào mời mua hàng hóa. Có những mặt hàng cấm bán thì họ không trưng bày ở ngoài, khi nào có nhu cầu họ mới đi lấy hàng hóa. Giao dịch nhiều lần, thành bạn hàng buôn bán. Hàng hóa được lấy về bỏ vào túi xách, dân buôn bắt xích lô về bến xe để lên đường về tỉnh. Có lần, má tôi bị cảnh vệ và cơ quan chức năng nghi ngờ, bắt dừng xe và khám xét. Họ phát hiện trên người bà có thuốc tây, lúc đó bà năn nỉ để xin đi nhưng không được, bà đành rút chiếc nhẫn 5 phân vàng trên tay đưa hối lộ, và họ đã bỏ qua.
Đi buôn thời kỳ đó chỉ muốn có ăn, vì không có việc làm. Có lần trước khi bà lên tàu lửa về quê, bị phát hiện trong người có quấn nhiều vải. Lúc này, bà bị lục soát và phát hiện mang thuốc tây và vải trên người, hàng hóa bị tịch thu hết. Đây cũng là lần cuối cùng bà đi buôn. Từ đó về sau, bà không đi buôn nữa mà vào Sài Gòn mua một chiếc máy vắt sổ để về may đồ. Đây cũng là chuyến đi mua hàng hóa cuối cùng nhưng là hàng hợp pháp. Thời điểm đó, phần lớn khi bị phát hiện thì hàng bị tịch thu hết, mất tiền, vì hầu như dân buôn đi xe đò hay tàu lửa không mang nhiều tiền. Với lại, dân buôn thời đó vốn cũng nhỏ, họ làm cá nhân nên số lượng cũng không bao nhiêu. Phần lớn họ làm vì cái ăn chứ không phải mục đích làm giàu.