Thời đại công nghiệp phát triển, thế giới đua nhau sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu. Qua một khoảng thời gian dài, những công xưởng bắt đầu dư thừa sản phẩm, họ nghĩ ra cách tiêu thụ số hàng hóa làm ra vì công sức và của cải đổ vào nhà máy, mua máy móc lẫn công sức vận hành nhà máy. Hàng ngày, họ phải cho máy móc chạy để tạo ra sản phẩm. Cho đến ngày nay, thay vì sản xuất những sản phẩm tiêu dùng, họ nhắm vào thế giới những người tìm kiếm những sản phẩm yêu cầu chất lượng để đáp ứng nhu cầu cao cấp. Từ đó, những sản phẩm tiêu dùng thông thường một mặt khác chuyển thêm những loạt sản phẩm cao cấp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng vì họ chấp nhận bỏ ra số tiền cao hơn để mua về sản phẩm đúng theo ý cá nhân. Chính vì vậy, nhà máy họ sẽ nghĩ ra những sản phẩm có yếu tố cá biệt.
Họ tạo ra sản phẩm đẹp hơn, dùng được lâu hơn, dùng tiện lợi hơn, nhanh hơn như những chiếc xe tốc độ cao, hay những loại tàu cao tốc cho đến những sản phẩm tiêu dùng hàng ngày đạt chất lượng nhiều năm vẫn khó hư. Điều này dẫn đến việc khai thác tài nguyên để có vật tư chế tạo ra những sản phẩm cao cấp. Để một chiếc tivi mỏng hơn yêu cầu nhà sản xuất phải suy nghĩ nhiều hơn, và đồng thời họ tìm được nguồn vật tư khó khăn hơn, phải trải qua nhiều công đoạn sản xuất thô để tạo ra được một con ốc chất lượng cao không bị gỉ sét, hay tạo ra một loại thép bền cứng chịu được độ uốn cao mà không bị gãy. Những chiếc ly thay vì làm từ những ống tre hay tiện từ gỗ, họ nghĩ thêm những loại ly bằng thủy tinh để thấy được đồ uống bên trong. Nhiều người nghĩ cần phải cao cấp hơn buộc nhà sản xuất tìm kiếm phương pháp chế tác thủy tinh trong suốt như pha lê ngày nay. Họ tạo ra những chiếc cốc pha lê trong suốt để khi thực khách dùng, họ không thấy bất cứ một lớp chắn nào cả; thay vào đó, họ thấy trực tiếp loại nước uống bên trong có màu sắc đúng như thật. Từ đó, có nhiều sản phẩm ra đời đáp ứng yêu cầu người tiêu dùng.
Điều đặc biệt họ làm quá nhiều cung cấp cho nhu cầu thị trường, đến lúc nhu cầu đã đủ, các nhà máy vẫn tiếp tục sản xuất vì họ không có cơ chế kiểm soát thị trường khi nhu cầu đã đủ. Nghĩa là họ không phanh được cho đến khi thị trường hồi lại thông tin là người tiêu dùng đã không còn thiết tha gì với sản phẩm đó nữa. Lúc đó, trong kho nhà máy đã đầy ắp rồi. Một lượng hàng hóa tồn đọng làm nghẽn quy trình sản xuất, dẫn đến một lượng thất nghiệp vì máy móc giờ đây đứng yên.
Một khi nhà máy đầu nguồn họ làm dư sản phẩm mà bán ra không được, buộc lòng họ phải cần tiền trả lương công nhân, trả tiền điện, dầu chạy máy của họ để duy trì bằng cách bán rẻ, bán giảm giá, mục đích không cho chuỗi sản xuất đứt gãy phá sản. Từ đó dẫn đến người tiêu dùng khi thấy sản phẩm đang bán chỉ bằng một nửa giá mà trước đó họ bỏ số tiền cao, giờ giá quá hời, bằng mọi giá họ mua về; có thể mua thêm hoặc mua để đổi cái cũ họ đang dùng.
Đây là lý do những bãi rác công nghệ, bãi rác hàng tiêu dùng ra đời. Các quốc gia bây giờ đang hứng chịu những bãi rác khổng lồ. Có những loại rác của người này bỏ đi nhưng người khác lại dùng tốt, có thể họ tiếp tục cho sản phẩm sống thêm một thời gian nữa cho đến khi không còn dùng được.
Có quá nhiều rác, từ đó người ta sẽ nghĩ đến tạo ra những máy móc xử lý rác thải ra từ người tiêu dùng và rác từ nhà máy; những nhà máy hàng ngày ngốn hàng ngàn, hàng triệu tấn rác để tái chế lại vật tư cung cấp ngược về nhà máy. Từ hàng hóa đến người dùng quay lại hàng hóa, một vòng đời của sản phẩm.
Một chuỗi quy trình tạo nên một hệ thống nền kinh tế cung cầu tạo nên hệ thống toàn thế giới phải đối mặt là những loại rác thải không thể xử lý. Vì để xử lý rác của rác, vì có một số rác không thể xử lý vì không có cơ chế hay máy móc tinh vi phân loại để tạo lại sản phẩm tinh như vật liệu ban đầu. Thà nhà máy họ mua sản phẩm tinh từ việc khai thác tài nguyên có sẵn như gỗ, thủy tinh từ cát, hay dầu mỏ từ lòng đất, cho đến nhựa cao su. Giá thu mua vật liệu tinh rẻ hơn rất nhiều so với mua lại hàng tái chế từ rác thải lẫn tạp chất. Nó là một vấn đề chưa ai đủ trí gỡ được mắt xích này.
Hệ lụy về kinh tế dẫn đến đời sống con người đi xuống thay vì nghĩ có nhiều đồ tiêu dùng, máy móc chế biến, máy móc giải trí giúp đời sống con người nâng cao như triết lý trước đây thời điểm ngành công nghiệp ra đời. Ai cũng nghĩ khi nó ra đời sẽ giúp con người trở nên tốt hơn, ít vận động chân tay, giúp giảm sức lao động. Nhưng thời điểm đó không một ai nghĩ khi con người lười lao động, nó làm cho trí não con người trở nên trì trệ. Nhà nhà bây giờ quá dư thừa vật dụng làm cho môi trường sống áp lực với những chiếc máy và những vật dụng hư lỗi; cộng với vì quá lệ thuộc với những vật dụng này làm cho con người bị lệ thuộc, không có họ không sống được, nó là có thật trên đời sống con người ngày nay.
Một khi con người lệ thuộc vào vật chất dẫn đến một cơ chế luyện tập cho thói quen trí não lười nhác, ngày nay con người dễ mắc phải những loại bệnh liên quan đến cơ bắp, trí não tinh thần. Hãy tưởng tượng một bệnh nhân nằm trên giường bệnh, họ được gắn vào cơ thể đủ loại ống từ trên xuống dưới. Trên đời sống chúng ta không khác gì một người bệnh, chỉ khác là chúng ta di chuyển được chứ không nằm một chỗ. Ở nhà máy lạnh, tivi, điện thoại, máy tính, máy xay các loại, bếp điện bếp từ, máy giặt, tủ lạnh, rô bốt hút bụi, máy hút bụi, mạng internet, máy pha cafe, máy đánh trứng, máy ủi… hầu như gia đình cá nhân nào ngày nay cũng có những loại máy cơ bản này. Khi có nó trong nhà là người ta không muốn dùng sức người để vận động. Một nút bấm là mọi việc xong hết. Chỉ cần lấy sử dụng luôn không cần phải làm nhiều bước như trước kia, đây là máy dạy cho não lười bắt chân tay lao động, nó tạo một cơ chế làm trí não quên đi chức năng bắt chân tay vận động, lâu dần sức khỏe con người trở nên yếu ớt, tuổi thọ sống giảm đi. Sống bên mình quá nhiều máy móc cũng là một hệ lụy về kinh tế.
Nhiều gia đình hay cá nhân đang tồn tại họ phải lao vào công việc để tạo ra tiền, vì có tiền họ mới mua những loại máy móc sắm cho gia đình để mục đích của họ hướng đến đầy đủ, đủ đầy, gia đình thoải mái. Từ yếu tố này, mỗi cá thể trong thế giới con người họ lao vào bất chấp mọi lý do để kiếm thu nhập để có những sản phẩm giống những người xung quanh. Vô tình họ vướng vào một loại áp lực xã hội, họ tìm kiếm cái gọi là đủ đầy, nhưng xã hội có nhiều người không thể nào đời sống tất cả mọi người giống nhau được, họ tạo nên một áp lực ngầm phải hơn những người xung quanh, bằng mọi giá họ mua sắm cho bằng người ta.
Khi chúng ta được sinh ra trên vũ trụ này, bên cạnh con người còn có những hệ sinh thái khác như dưới biển, trên núi, dưới lòng đất, phải trải qua vài triệu năm, vài trăm năm mới hình thành một khu rừng hay một giống loài. Khi chúng ta khai thác quá nhiều dẫn đến sự thừa thãi. Có những người họ có đến vài sản phẩm giống nhau, có những gia đình họ mua về bằng tiền sức lao động nhưng họ để trên kệ chưa bao giờ đụng đến, có những người thậm chí mua về còn chưa bóc hộp. Tài nguyên từ thiên nhiên được chuyển hóa thành sản phẩm dùng trong nhà. Các loại sinh vật dưới biển được đánh bắt ủ trong tủ đông hàng năm trời chưa đụng đến. Nhà nào cũng có tủ lạnh trữ đông, có những người mua quần áo về chưa cắt nhãn dĩ nhiên chưa bao giờ mặc. Các quán ăn bây giờ mọc ra quá nhiều và cái bụng chúng ta phải làm việc không ngừng nghỉ vì nó phải tiếp quá nhiều loại thịt. Một cơ thể chỉ ăn và giải trí ít vận động, đi làm kiếm tiền xoay vòng với ảo tưởng giàu có nhiều vật chất trong tay làm cho não bị hư hại. Nhiều hệ lụy hơn là lợi ích.
Khi con người không học được sự cân bản, không được học về sự vừa đủ, họ sử dụng quá nhiều tài nguyên như ăn quá nhiều, dùng quá nhiều, giải trí quá nhiều, riêng bản thân mình là người chịu thiệt hại đầu tiên, sau đó đến gia đình mình. Mỗi gia đình là một hạt nhân của vũ trụ, nhiều gia đình cộng lại là một quả bom có thể nổ bất cứ lúc nào khi vũ trụ không còn tài nguyên mà thay vào đó là những đống rác hút vào con người và vào vũ trụ này, nó sẽ sinh ra một hệ lụy to lớn mà điều đó đang diễn ra trên đời sống của mỗi người. Hạnh phúc không nằm ở việc sở hữu thật nhiều vật chất, mà nằm ở khả năng làm chủ cuộc sống của chính mình. Đã đến lúc chúng ta cần học cách cân bằng vì hoang phí tài nguyên là một tội ác.