Cách đây vài ngày, tôi có việc ở Quận 12, Sài Gòn. Công việc cũng gần nhà anh thợ vẽ, nên tôi ghé thăm. Trên đường đi, tôi thấy tiệm bán gà nướng nên ghé vào mua. May mà hôm đó anh ở nhà, sau những chuyến công tác dài. Đến nơi, tôi gọi điện cho anh, nhưng tiếng chuông điện thoại kêu mà không thấy anh nghe máy. Nhìn vào cửa thì thấy không khóa, ghé mắt vào bên trong song cửa cổng, tôi thấy chiếc xe máy đầy màu sắc dựng bên hiên nhà. Xe thì ở đó, cửa thì không khóa, chuông điện thoại thì không nghe; tôi nghĩ chắc anh đang nghỉ trưa nên không biết tôi tới. Tôi gọi vài tiếng: “Anh Nguyên ơi, anh Nguyên hỡi.” Nhưng không thấy ai bên trong trả lời, tôi đành quay lại xe đứng chờ. Giờ đồ ăn đã mua rồi, không lẽ mang về. Tình cờ, anh đi ra từ phía sau nhà, từ cái hẻm nhỏ bên hông.
Chúng tôi bắt tay và cười hỏi nhau về công việc. Anh Đoàn Nguyên mới nói rằng anh ra sau pha sơn nên không nghe thấy. Hai anh em bắt tay vui vẻ; đã gần một năm rồi chúng tôi mới gặp lại, vì cả hai đều bận rộn. Chúng tôi vào nhà uống trà, anh mở cửa cho tôi dắt xe vào. Trong nhà cũng là nơi anh làm việc, với những bức vẽ còn dở dang. Từ cửa bước vào, có một chiếc bàn gỗ màu đen, loại bàn dành cho mọi người ăn cơm. Ở đầu bàn có một chậu hoa thần tài, chắc đã lâu anh chưa tưới nước nên những lá bị khô vì thiếu nước.
Cây thần tài được đặt trong chiếc bình giống như bình rượu cần. Đây cũng là chiếc bàn trà, không thiếu trà và thuốc lào; anh sưu tầm đến ba ống điếu mới đủ dùng. Trong đó, có một cây rất tiện lợi vì sau khi hút có thể thu gọn lại để dễ di chuyển. Mỗi khi ra đường, anh chỉ cần rút lại nhét vào túi là có thuốc lào dùng. Phía bên trái góc nhà có vài miếng gỗ, nơi anh đặt những vật dụng thường ngày và những kỷ niệm, cùng những bao thuốc lá đã hút hết. Trên chiếc bàn kê tạm, tôi thích nhất là bức tranh được tạo tác từ những mảnh thủy tinh của chai rượu, vì anh Đoàn Nguyên thích uống rượu nên đã sưu tầm bức tranh mang phong cách tửu rượu.
Cũng ở góc nhà ngay cạnh bàn trà, anh có một cái tủ đồ, treo mấy chiếc áo giống như của anh thời còn đi bộ đội. Phía bên phải góc nhà, khi tôi bước vào, có một chiếc kệ sát tường, nơi anh trưng bày những bình rượu được bạn bè tặng và những vật kỷ niệm sưu tầm. Trong nhà, hai bên tường được dùng để treo những tấm vải vẽ tranh. Ngay phía dưới những bức tranh là sơn và dụng cụ cọ vẽ. Anh sống đơn giản, chỉ một chiếc giường kê bằng miếng ván và chiếc mùng màu trắng đã ngả sang màu vàng. Khi chúng tôi vào, anh nói: “Anh mới đi một chuyến dài nên nhà hơi bề bộn.” Nhưng nhà anh cũng không có gì để dọn, vì anh sống đơn giản hết mức có thể. Chúng tôi mở gà nướng ra ăn, anh đi lấy chai rượu và trà để chúng tôi nhâm nhi sau một thời gian dài gặp lại.
Anh vẫn như ngày nào, mái tóc và bộ râu rất đặc trưng của một người làm nghệ thuật. Anh vừa nói vừa cười, khuôn mặt không còn mang sự nặng nề của vật chất. Tiếng cười của anh sảng khoái, mỗi lần anh cười, tôi cũng muốn cười theo. Chúng ta bị áp lực quá nhiều nên đôi lúc tiếng cười không giòn vang như của anh. Anh cười nói vui vẻ khi chúng tôi gặp lại; tuy ít gặp, nhưng anh đối đãi với tôi như những người bạn lâu năm. Tôi mang gà nướng vào, mở ra cho hai anh em thưởng thức. Anh chuẩn bị rượu, trà và vài cái chén, chúng tôi ngồi hàn huyên. Mặc dù không cùng lĩnh vực—anh làm họa sĩ, tôi làm kinh doanh—nhưng điểm chung của chúng tôi là thích sáng tạo. Đối với anh, khi đã từ bỏ vật chất, cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn.
Anh kể trước đây anh ở trong quân đội, nhưng vì áp lực nên anh phải xin ra. Công việc của anh là họa sĩ vẽ tranh tuyên truyền trong quân đội. Từ khi ra khỏi quân đội, anh không thích đúng giờ; trong quân ngũ, anh không được tự do làm gì mình muốn. Sau khi ra, anh bắt đầu tìm việc kiếm tiền, vào những phòng tranh chuyên sao chép để làm việc. Mỗi ngày, anh cứ vẽ đi vẽ lại những bức tranh, dần dần cảm thấy chán nản. Bản chất anh không thích sự gò bó, và việc chép tranh của người khác—mặc dù lương lúc đó cao hơn, đủ ăn—không mang lại hứng thú. Anh quyết định từ bỏ tất cả để tìm một nơi bình yên.
Hành trình tìm kiếm tự do của anh bắt đầu. Anh lang thang tìm kiếm những nơi vắng vẻ, lần đầu tiên trú trong một cái chòi tạm bỏ hoang, hàng ngày anh vẽ tranh bằng niềm đam mê sáng tác. Không gò bó, không tiền bạc, không của cải vật chất—tất cả thời gian anh dành cho chính mình, trải nghiệm cuộc sống tự do. Đây là thời điểm khó khăn nhưng mang lại cảm giác bình an; sau một thời gian bị gò bó, giờ đây anh như một con người hoàn toàn trống rỗng, không bận tâm đến chuyện vật chất. Sau một thời gian ở trong chiếc chòi bỏ hoang, nhiều người biết đến anh và giúp anh có nhà; bây giờ anh không còn sợ nắng mưa và có không gian làm việc.
Cuộc sống hàng ngày của anh không chỉ dành cho việc vẽ tranh; anh sống cuộc sống tự do, yên bình, thích thì uống rượu, thích thì đi chơi, sáng tác. Tranh vẽ ra, anh tự mình ngắm. Anh không nghĩ phải vẽ để bán tranh lấy tiền; với anh, không cần tiền, vì anh đã thoát khỏi ý nghĩa vật chất. Niềm đam mê và sự tự do.
Chúng ta hình dung thế giới mọi người đang phải vật lộn với thời gian, tiền bạc, vật chất, trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi sáng, chúng ta thường bị thúc giục bởi những cuộc điện thoại, tin nhắn, email, mạng xã hội hay những tờ báo tin tức. Mọi người bị cuốn vào một vòng xoáy mà quên đi thời gian, đến khi nhận ra thì đã quá già để thoát ra vùng lẫn quẫn. Còn anh, với sự dũng cảm, đã thoát ra khỏi vùng an toàn. Anh chia sẻ với tôi rằng anh không quen với sự gò bó, tiền bạc và vật chất, vì những thứ đó làm anh mệt mỏi. Anh phải đấu tranh để thoát ra và hướng đến sự tự do—muốn làm gì thì làm, thích ăn, thích ngủ và thích sáng tác. Rượu là xúc tác để anh tạo ra những tác phẩm độc đáo và sáng tạo.
Anh cũng chia sẻ rằng có nhiều lúc tự do quá mà không có tiền; đôi lúc đam mê nhưng không có tiền mua rượu, anh phải cầm tranh ra bà tạp hóa đầu đường để bán, nhưng bị từ chối và nói anh điên. Có những lần anh vẽ tranh mà không có tiền mua màu, anh phải dùng cơm giã ra để có màu trắng rồi lấy để vẽ lên tranh. Cuộc sống không dễ dàng khi không có vật chất, nhưng sau một thời gian, nhiều người biết đến tranh của anh. Đối với anh, không quan trọng người ta có chấp nhận tranh hay không. Có lần anh mang tranh đi đăng ký bản quyền; theo luật, người sáng tác phải trả một số tiền để làm thủ tục đăng ký tác giả. Anh bỏ về vì nghĩ đã không có tiền, đã bỏ thời gian và sự sáng tạo ra rồi mà khi đi đăng ký lại phải trả tiền. Thôi thì anh không đăng ký nữa, mang tranh về giữ trong nhà, chia sẻ cho những người yêu thích tranh mình xem, vậy cũng đã đủ cho mình rồi, không cần ai công nhận, không cần ai chứng nhận—bản thân mình chứng nhận thấy đẹp là được. Anh nói: “Tranh mình vẽ, mình sáng tác, mình ngắm là vui rồi, cần gì đăng ký cho mất tiền.” Tôi đồng ý với quan điểm của anh. Sau đó, hai anh em cười khà khà vì bản thân tôi viết sách; khi muốn xuất bản sách phải đi đăng ký bản quyền đủ thứ chi phí—thôi thì khỏi, mang về tự đọc, chia sẻ cho bạn bè còn vui hơn nhiều.
Anh cũng nói thêm rằng nhiều người khi viết sách hay vẽ tranh, họ suy nghĩ làm sao vẽ xong tranh hay viết xong sách, sau đó họ muốn bán kiếm tiền. Nếu vậy thì không ai sáng tác được. Tôi cùng quan điểm nên hai anh em tiếp tục cười thật thoải mái. Cách anh sống như một đứa trẻ—vui vẻ, thoải mái, cười cho thỏa thích. Anh là người rất thân thiện, như một đứa trẻ ngây thơ, nhưng những gì con người anh đang có và những tác phẩm anh tạo ra cũng mang phong cách sạch sẽ, trong sáng—đó chính là con người anh.