Ngày trước sự phân chia giữa sản xuất và buôn bán rõ rệt. Bổn phận người sản xuất và người buôn bán họ có nhiệm vụ riêng, phần người nào họ làm tốt phần nấy. Từ ngày có internet mạng phát triển nó có phần tốt cũng có phần không tốt. Mặc tốt là giúp người sản xuất tìm kiếm khách hàng nhanh hơn, khách hàng họ tìm thấy người sản xuất dễ dàng. Một người muốn mua sản phẩm của nhà sản xuất họ có thể liên lạc trực tiếp không cần qua trung gian người buôn bán. Nhưng mặc xấu của nó là làm người buôn bán không có chỗ đứng, người buôn bán vị thế đứng giữa người sản xuất và người mua hàng. Dần dần người sản xuất không cần người buôn bán nữa, họ tự sản xuất tự bán cho người cần mua. Những nhà buôn, người bán bắt đầu giảm, kinh doanh bắt đầu ế dần vì không có người mua tìm đến.
Người nông dân ngày trước trồng cây, khi thu hoạch, họ có kết nối với dân buôn. Lái buôn đến từng nhà nông để thu mua trái cây, sau đó phân loại và bán cho từng chủ sạp ở chợ. Người mua chỉ cần đến chợ lựa chọn theo ý thích, mỗi người mỗi kilogram mang về. Nếu ai muốn mua để bán lại thì mới liên hệ với dân buôn. Họ được kết nối vào chuỗi cung cấp, dần dần trở thành đầu mối buôn bán với nhau. Buôn bán cũng có nhiều cấp, được phân cấp từ cao đến thấp; càng cao, càng gần với người nông dân thì vốn đầu tư phải lớn để mua nguyên vườn. Dĩ nhiên, giá sẽ rẻ nhất. Tiếp theo là người buôn tại địa phương gần chợ, họ lấy hàng qua tay thứ hai với giá sẽ cao hơn nhưng số lượng không nhiều. Ai có vốn lớn hơn có thể cạnh tranh và lấy trực tiếp từ người nông dân; còn không, họ chỉ cần lấy qua lái buôn cấp 1, 2 vẫn có lãi khi bán ra.
Khi tôi 7-8 tuổi, ở quê tôi có nhà máy đường Quảng Ngãi. Lúc đó, tôi chưa hình dung được sao một nhà máy lại lớn như vậy; tôi nghĩ nó giống như một khu quân sự với toàn bộ máy móc hiện đại, những bồn hơi và ống khói cao chọc trời. Bên trong nhà máy là những cỗ máy đang hoạt động. Ở bất cứ chỗ nào nhìn thấy cũng cảm giác như nó muốn nổ tung. Lúc ấy, chúng tôi thường chạy xe đạp lên đỉnh núi Ông bằng con đường trải nhựa, đứng trên cao nhìn thấy toàn cảnh nhà máy đường. Một đứa trẻ như tôi chưa từng chứng kiến công trình lớn lao này. Không khí ở đây toàn mùi mía đường, hít vào là cảm nhận ngay mùi thơm từ các lò nấu đường bên trong.
Nhà máy đường được nhà nước đầu tư, đường được sản xuất từ mía do nông dân trong vùng trồng. Thời điểm đó, nhà nước khuyến khích người nông dân trồng mía. Mía cũng có mùa vụ; thời điểm bắt đầu trồng là những khúc mía được giữ lại làm giống. Loại mía tốt nhất được nông dân giữ lại và cất trữ cho vụ sau. Họ chặt cây mía ra từng khúc khoảng 30 cm, mỗi khúc có 3 mắt mía sẽ lên mầm. Mầm mía mọc trên thân cây, khi mầm bắt đầu phát triển, họ trồng xuống đất, bón phân, tưới nước cho mía lớn. Khi cây mía cao hơn 2 mét, phải mất từ 10 đến 12 tháng mới thu hoạch được. Cùng thời điểm đó, nhà máy đường bắt đầu ra quân, những đoàn xe mía chia ra nhiều ngã đi đến tận vùng trồng để thu hoạch. Mía được người nông dân bán cho nhà máy đường, họ đi theo xe để vào nhà máy có cân đo trọng lượng. Giá mua bán phụ thuộc vào lượng đường lấy ra từ ống nghiệm. Lúc đó, người ta gọi là “chữ đường”, nghĩa là nhà máy lấy ngẫu nhiên những cây mía rồi ép trong phòng thí nghiệm, có máy đo lượng đường cao hay thấp. Nếu lượng đường cao, nông dân được trả giá cao; ngược lại, nếu lượng đường thấp, giá thu mua sẽ thấp.
Xưởng sản xuất thời đó kết hợp với nông dân sản xuất đường, sau đó được bán cho các đại lý lớn trong nước hoặc xuất khẩu. Trong nước, mỗi tỉnh có một đại lý, và mỗi đại lý lại bán lại cho người bán buôn. Đường được phân phối có trật tự rõ ràng đến tay người tiêu dùng qua những bịch đường 0.5kg đến 1kg cho gia đình sử dụng.
Sau này, công nghệ phát triển, có Internet, các xưởng không còn đại lý cấp 1, cấp 2 nữa. Họ đăng lên các trang mạng để bán trực tiếp cho người tiêu dùng, thay vì phải qua đại lý. Điều này giúp người sản xuất hưởng lợi nhuận cao hơn, trong khi người tiêu dùng cũng mua được giá rẻ hơn. Cuối cùng, đại lý cấp 1, 2, gọi là dân buôn, không còn khả năng tiếp tục kinh doanh, dần dần các đại lý cấp 2, 3 thưa dần. Mặc dù có mặt tốt là người dân được mua hàng với giá thấp hơn, nhưng thực tế, nhà sản xuất không đủ năng lực để làm công việc của dân buôn. Họ chú tâm vào sản xuất nên không có thời gian tiếp xúc với người tiêu dùng để giới thiệu sản phẩm hay nắm bắt thị trường. Nhà sản xuất không đủ nguồn nhân lực để mở rộng thị trường tại từng địa phương nhỏ.
Dần dần, các chợ địa phương cũng thưa vắng, họ lấy hàng từ nhà máy nhưng sau khi bán ra thì bị người tiêu dùng quay lại phàn nàn về giá cả. Nhà sản xuất không phân phối hàng qua hệ thống, ai có tiền thì ưu tiên mua hàng, và không quan tâm đến dân buôn vì qua lái buôn là bị mất một khoản lợi nhuậnGiờ nhà sản xuất không cần đưa hàng gối đầu cho lái buôn nữa, hàng để trong kho chờ ai có tiền là bán. Về lâu dài, dân buôn không còn đất sống, dẫn đến việc tan rã. Điều này trở thành sự đứt gãy chuỗi cung cấp không theo trật tự, và sản xuất không thể đáp ứng được nhu cầu. Kết quả là nhiều nhà sản xuất sản xuất nhiều hàng hóa nhưng không có người bán, dẫn đến việc đóng cửa nhiều. Nếu muốn bán cho người tiêu dùng từng khối lượng nhỏ lẻ thì nhà sản xuất cũng không biết cách làm, vì hệ thống sản xuất thiết kế để bán theo tấn, theo lô chứ không bán lẻ. kết quả sự thay đổi lớn trong chuỗi sản xuất ngày nay.