Nói gì thì nói, tôi vẫn thích ăn thịt, rau củ từ chợ địa phương hơn hàng hóa trong siêu thị. Hàng hóa được bán tại chợ địa phương nơi chúng ta sống là thực phẩm tươi của chính địa phương. Các chợ vùng biển thường tập trung bán hải sản và cá biển ngay sau khi đánh bắt về. Những người buôn bán ở đây rất am hiểu về các loại cá và mực. Họ có thể nhận biết ngay loại cá nào tươi và loại nào mới được đánh bắt.
Nhà tôi cách biển khoảng 12 km. Ở quê, nếu đi xe máy, chỉ mất tầm 20 phút là đến biển. Buổi sáng, các xe máy chở cá từ biển lên bán cho người dân ven đường. Vào những mùa cá cơm, từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch, nhiều xe máy và cả xe đạp thồ chở hai giỏ đan bằng tre chứa đầy cá cơm bên trong. Nhìn xa xa, thấy cá bóng sáng, những con cá cơm to bằng ngón tay trỏ. Họ dạo khắp đường buổi sáng, thường thì người dân mua cá cơm về để muối. Gia đình tôi cũng mua về một xọt cá cơm để làm mắm.
Cá cơm được ủ trong chum bằng gốm. Chum gốm phải rửa sạch, phơi khô cho ráo nước. Mỗi lớp cá là một lớp muối hạt, có người còn bỏ thêm một chút đường mía để cá cơm đỡ chát vì muối. Thường cá cơm được ủ muối tầm một năm cho đến khi cá bắt đầu phân hủy trong lớp muối hạt. Nhờ lớp muối, các lớp cá lên men tạo ra hỗn hợp cá muối. Những ai thích ăn mắm cái thì không cần để lâu, miễn sao cá cơm vẫn còn nguyên con. Nếu ai muốn làm mắm để ăn, thì để cho phần thịt cá cơm tan ra, sau đó phải dùng lưới bằng vải mùng để lọc.
Bên trong chất cốt cá cơm là nước mắm. Người ta chiết ra chai để sử dụng quanh năm. Nước mắm cũng có tính chất kháng khuẩn và làm thức ăn. Hầu như trong bữa ăn của người miền Trung luôn có chén nước mắm kèm ớt.
Chợ truyền thống, chợ địa phương thường là nơi người nông dân bán hàng tươi sống từ vườn. Sáng sớm, họ hái rau quả từ vườn hay những quả mít chín được cắt xuống mang ra chợ bán ngay, vì những thực phẩm này không để đông lạnh được. Họ bán ngay trong ngày, các loại rau củ cũng vậy; nếu để lâu sẽ bị hư. Chính vì vậy, chợ địa phương thường bán hàng hóa ngay tại địa phương.
Trên các vùng Tây Nguyên, phần lớn người dân địa phương bán các loại rau rừng, thực phẩm từ núi, nhiều hơn so với miền xuôi. Ở núi, cá biển rất ít; thường người dân bán các loại củ, bơ, bắp được trồng ngay gần chợ. Mỗi mùa, người dân thu hoạch thực phẩm đó mang ra chợ bán. Lúc mùa tiêu, họ bán tiêu; khi mùa bắp đến, họ lại bán bắp cho người dân địa phương mua về ăn hoặc làm thức ăn gia súc.
Người nước ngoài đi du lịch đến các địa phương cũng được sử dụng những thực phẩm địa phương tươi sống. Hầu hết những người từ vùng khác đến thông qua du lịch đều muốn thử các món ăn do địa phương chế biến. Cách chế biến và hương vị sản phẩm cũng khác nhau. Trong nước nhiều khi cùng một loại hạt giống như bí ngô nhưng khi trồng ở nơi khác, vì thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau nên hình dạng và hương vị cũng có phần thay đổi.
Các món ăn và chợ địa phương rất gần gũi với chúng ta. Ở các nước chưa phát triển hay đang phát triển, chợ truyền thống vẫn là một phần quan trọng trong đời sống người dân. Họ quen với việc đến chợ, ăn những món ăn địa phương; trừ khi không tìm thấy, họ mới sử dụng hàng hóa đóng gói công nghiệp.
Từ khi có tàu biển vận chuyển hàng hóa đi xa, người ta nghĩ ra nhiều cách để tích trữ hàng hóa. Tủ lạnh cũng ra đời nhằm giúp giữ hàng hóa lâu hư hơn. Ngành công nghiệp hàng hóa ra đời có mặt tốt và không tốt. Mặt tốt là giúp các địa phương có thể thưởng thức nhiều món ăn địa phương khác. Ở Việt Nam, người ta cũng có thể ăn các món ăn từ các nước Tây phương hay Phương Đông. Mặt không tốt là để đảm bảo hàng hóa không hư khi vận chuyển đi xa, người ta sử dụng các loại chất bảo quản và hóa chất để ủ, pha trộn với thức ăn, khiến vi khuẩn và nấm mốc chậm phát triển. Điều này không tốt cho sức khỏe.
Ngày nay, với sự phát triển của thị trường hàng hóa, người ta có xu hướng muốn tích trữ hơn. Điều này cũng dẫn đến việc khai thác quá mức, gây mất cân bằng hệ sinh thái. Ngày trước, người dân thường được hưởng lợi từ thực phẩm như cá biển đa dạng; ngày nay, việc đánh bắt vượt mức gây ra nguy cơ mất cân bằng nguồn thực phẩm và làm thay đổi cách nuôi trồng. Có những địa phương trước đây trồng một loại cây phải mất vài năm mới ra quả, nhưng giờ đây, vì thị trường hàng hóa yêu cầu việc thu hoạch nhanh, người nông dân phải tạo ra những loại cây ngắn ngày, điều này làm giảm hương vị và chất lượng gốc, gây mất cân bằng sinh thái.
Ngành công nghiệp hàng hóa với lợi nhuận quá lớn tạo ra một sự thay đổi nhận thức về sản phẩm địa phương. Quá nhiều người kinh doanh thấy lợi nhuận lớn từ thị trường hàng hóa và đầu tư nhiều tiền vào quảng cáo, gây thay đổi nhận thức của người tiêu dùng về hàng hóa công nghiệp so với hàng hóa địa phương. Các sản phẩm được đóng gói đẹp mắt, quảng cáo hình ảnh ngon lành như thực phẩm địa phương. Họ thường chỉ truyền thông về những ưu điểm của hàng hóa, trong khi những vấn đề tiêu cực lại bị che giấu, làm người tiêu dùng không nhận thức được đầy đủ. Đồng thời, người quản lý cũng được trả thuế từ sản phẩm công nghiệp, đây cũng là lý do giúp pháp lý thay đổi theo hướng thuận lợi hơn cho thị trường hàng hóa công nghiệp.
Các nước phát triển ý thức được tầm quan trọng của hàng hóa địa phương hơn hàng hóa công nghiệp, vì hậu quả từ việc tiêu thụ lâu dài có thể dẫn đến nhiều bệnh nguy hiểm, thậm chí ung thư. Do đó, họ đã có nhiều thay đổi trong cách tiếp cận hàng hóa hữu cơ và sản phẩm không chứa chất bảo quản.
Mặc dù hàng hóa địa phương đang có xu hướng tăng, hàng hóa công nghiệp vẫn chiếm phần lớn trong tổng tiêu thụ toàn cầu, đặc biệt ở các nước đang phát triển và khu vực đô thị hóa cao. Các thành phố lớn thường không có đất nông nghiệp nên họ phải nhập hàng hóa từ các địa phương khác, thường được đóng gói và có chất bảo quản bên trong.
Trên toàn cầu, sự ưa chuộng giữa hàng hóa địa phương và hàng hóa công nghiệp là một vấn đề phức tạp và đa chiều, bởi mỗi người có nhận thức khác nhau. Mặc dù có sự tăng trưởng trong tiêu thụ hàng hóa địa phương, hàng hóa công nghiệp vẫn giữ vai trò chính trong nhiều thị trường. Sự lựa chọn giữa hai loại hàng hóa này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế và xu hướng tiêu dùng hiện tại.